Gia đình đáng nể ở Hưng Yên: Bằng tốt nghiệp của ông nội do giáo sư lừng danh bậc nhất Việt Nam ký, con cháu giỏi giang

maimaipress
Minh Phương
Phản hồi: 2

Minh Phương

Thành viên nổi tiếng
Tình cờ nhìn thấy tấm bằng bác sĩ 60 năm tuổi của ông nội, anh Phạm Đăng Khoa không khỏi xúc động bởi tấm bằng là chứng nhân cho một đời bác sĩ quân y tận hiến và những ký ức chưa từng phai mờ với ông nội.

Cháu nội bất ngờ với bằng tốt nghiệp Trường Đại học Y Hà Nội của ông

Trao đổi với PV Báo Dân Việt, anh Phạm Đăng Khoa (SN 1993, quê Thái Bình) cho biết, mới đây anh vô cùng bất ngờ khi nhìn thấy tấm bằng tốt nghiệp đại học của ông nội. “Trước đó, tôi chỉ biết ông là bác sĩ quân y và tốt nghiệp trường Y. Bây giờ tôi mới được nhìn thấy bằng tốt nghiệp của ông, đặc biệt là tấm bằng ấy vẫn còn nguyên vẹn sau nhiều thập kỷ”, anh Khoa chia sẻ.

Tấm bằng mà anh Khoa nhắc tới là bằng tốt nghiệp bác sĩ đa khoa của Trường Đại học Y Hà Nội, cấp năm 1966, mang tên ông Phạm Văn Lạn. Bằng do Giáo sư Hồ Đắc Di – Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Đại học Y Hà Nội sau Cách mạng Tháng Tám – ký. (Tuy nhiên, tên đầy đủ của ông là Phạm Văn Lạn, song trên bằng lại in thành Phạm Văn Lan do thiếu một dấu chấm).

1767518143397.png

Bằng tốt nghiệp của ông Phạm Văn Lạn do Giáo sư Hồ Đắc Di – Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Đại học Y Hà Nội sau Cách mạng Tháng Tám – ký. Ảnh: NVCC

Ông Phạm Văn Lạn theo học khóa 1961–1966, cùng khóa với liệt sĩ, bác sĩ Đặng Thùy Trâm, một trong những biểu tượng tiêu biểu của thế hệ bác sĩ thời chiến.

Theo anh Khoa, ông nội sinh năm 1937, tuy nhiên trong giấy khai sinh, bằng đại học và nhiều giấy tờ cá nhân lại ghi năm sinh 1939.

Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, có truyền thống hiếu học và yêu nước, ngay từ khi còn trẻ, ông Phạm Văn Lạn đã nuôi dưỡng khát vọng cống hiến cho Tổ quốc bằng con đường tri thức. Thời điểm đó, điều kiện kinh tế gia đình vô cùng khó khăn. Những năm đầu đi học, ông phải đi bộ từ Thái Bình (nay là Hưng Yên) lên Hà Nội để dự thi và theo học đại học.

Khi học Trường Đại học Y Hà Nội, ông đã có vợ và con nhỏ. Thương em trai học hành vất vả, anh trai của ông – một giáo viên được Nhà nước cấp xe đạp để đi dạy học tại Yên Bái – đã nhường lại chiếc xe cho ông làm phương tiện đi lại, đồng thời trích một phần lương giáo viên để hỗ trợ chi phí ăn học, bởi gia đình không đủ khả năng chu cấp.

1767518167695.png

Thông tin về ông Phạm Văn Lạn được lưu trong cuốn kỷ yếu khoá 1961 - 1966, Trường Đại học Y Hà Nội. Ảnh: NVCC

Sau khi hoàn thành chương trình THPT, trong bối cảnh đất nước bị xâm lược, với suy nghĩ “phụng sự Tổ quốc là điều có ý nghĩa nhất”, ông Phạm Văn Lạn miệt mài ôn luyện và thi đỗ Trường Đại học Y Hà Nội khi đã 24 tuổi. Sau 7 năm học tập, ông tốt nghiệp bác sĩ đa khoa và ngay lập tức lên đường công tác theo sự điều động của tổ chức.

Theo hồ sơ công tác, ông từng đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong quân đội: công tác tại Đoàn 559, làm Bệnh xá trưởng Đoàn 559 tại Lào (1968–1973), Đội trưởng Đội điều trị Tiểu đoàn 9 cùng nhiều chức vụ khác. Năm 1988, ông nghỉ hưu với quân hàm Trung tá và trở về quê nhà.

Với hơn 30 năm công tác, ông Phạm Văn Lạn được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều huân, huy chương cao quý cùng Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng. Sau khi nghỉ hưu, ông trở thành bác sĩ của bà con trong vùng, đồng thời là “thầy thuốc” của chính gia đình mình.

Ông như một cuốn bách khoa toàn thư sống

Một trong những kỷ niệm anh Khoa nhớ nhất được ông nội kể lại là câu chuyện về một gia đình từ Hải Dương sang chúc Tết. Người đàn ông tên Đoàn đưa vợ và hai con trai đến thăm, rồi giới thiệu ông từng là đồng đội của ông Lạn trong quân ngũ. Trong một trận chiến, ông Đoàn bị địch bắn, viên đạn xuyên qua xương hàm, chéo xuống cổ họng, mất rất nhiều máu, suy hô hấp, nguy cơ tử vong rất cao.

Khi được đưa vào lều cấp cứu, chính ông Phạm Văn Lạn là người trực tiếp xử trí. Trong tình thế vô cùng khẩn cấp, nếu không mổ ngay, bệnh nhân sẽ chết vì không thở được. Ông Lạn đã dùng dao mổ chọc thẳng vào cổ để banh khí quản tạo đường thở, sau đó tiến hành mổ cấp cứu, lấy đạn và khâu vết thương. Nhờ vậy, ông Đoàn được cứu sống và mang ơn ông Lạn suốt đời.

Sau ngày hòa bình lập lại, năm nào vào dịp Tết, ông Đoàn và vợ cũng sang thăm ông Lạn. Vì cả hai gia đình đều nghèo, món quà chỉ là một con gà trống thiến, vài cân gạo nếp nhưng chứa đựng tình cảm trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc. Khi tuổi cao, sức yếu, không thể tự đi được, ông Đoàn lại nhờ con cháu đưa sang thăm. Những buổi gặp gỡ, các ông ngồi hàn huyên, kể lại những năm tháng gian khổ nơi chiến trường khiến người nghe không khỏi xúc động.

1767518222454.png

Ông Lạn và vợ. Ảnh: NVCC

Anh Khoa cũng không quên chuyện ông nội kể về những đêm gác trực một mình, trông coi hơn 20 thi thể đồng đội phủ khăn trắng trong hầm. Giữa đêm khuya, trong nỗi nhớ vợ con và gia đình, ông không cảm thấy sợ, chỉ thấy buồn và bất lực vì quá nhiều đồng đội đã nằm xuống, còn sức người thì có hạn.

Trong mắt anh Khoa, ông nội như một cuốn bách khoa toàn thư sống, là chỗ dựa tinh thần và là người giữ gìn kỷ cương, nền nếp gia đình. Ngày anh Khoa còn nhỏ, ông rất nghiêm khắc với con cháu. Ông không cho xem tivi quá nhiều, đặc biệt cấm các chương trình ca nhạc, phim ảnh có nội dung người lớn. Khi lớn lên, anh Khoa mới hiểu đó là cách ông bảo vệ và dạy dỗ con cháu cẩn trọng, để không bị ảnh hưởng bởi những điều tiêu cực.

Những ngày Tết, anh Khoa thường cùng ông gói bánh chưng. Khi ông yếu dần, anh gói bánh, còn ông giúp buộc lạt cho thật chặt – những ký ức giản dị nhưng sâu sắc với anh.

Ông từng tâm sự rằng, việc lựa chọn nghề y với lý tưởng phụng sự Tổ quốc, cứu người là tạo phúc lớn cho bản thân và gia đình. Ông cũng mong cháu nối nghiệp vì nhận thấy anh Khoa có sự tỉ mỉ, cẩn thận – phẩm chất cần thiết của nghề y.

Khi anh Khoa không đủ điểm vào Trường Đại học Y Hà Nội và quyết định theo học Đại học Bách khoa Hà Nội, ông nội buồn nhưng vẫn động viên: lựa chọn là của cháu, miễn thấy vui vẻ, nỗ lực học tập, trở thành người có ích và tự nuôi sống bản thân, hỗ trợ gia đình thì đều là lựa chọn tốt. Nếu sau này còn yêu nghề y, vẫn có thể tiếp tục học khi có điều kiện.

1767518309947.png

Hình ảnh giản dị của bác sĩ quân y sau khi về hưu. Ảnh: NVCC

Nhà anh Khoa cách nhà ông nội khoảng 150m nên ngày nào anh cũng sang thăm, trò chuyện. Bà nội mắc bệnh tim, hằng ngày ông đều đo huyết áp, nhịp tim và ghi chép cẩn thận. Sáng ngày ông qua đời năm 2022, ông vẫn đo nhịp tim cho bà trước khi lên cơn đau tim cấp.

Ông bà có tất cả 5 người con, trong đó có một người chú theo nghề y, là thạc sĩ, bác sĩ, Trưởng khoa Ngoại phẫu thuật tại Bệnh viện Đa khoa TP Thái Bình, tiếp nối truyền thống chữa bệnh cứu người của ông Phạm Văn Lạn. Các người con còn lại chủ yếu làm giáo viên Toán, Khoa học Tự nhiên cấp 2.

Các cháu của ông Lạn cũng tiếp tục truyền thống học hành giỏi giang. 4 cháu lớn của ông đều học tại các trường đại học danh tiếng của cả nước. Các cháu nhỏ hơn đang học phổ thông nhưng cũng là học sinh giỏi cấp Tỉnh, Đại biểu Cháu ngoan Bác Hồ. Anh Khoa sau khi tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội đã làm kỹ sư hệ thống sản xuất tại Samsung Display Việt Nam (Bắc Ninh), tiếp tục nỗ lực trên con đường riêng nhưng luôn tự hào về truyền thống gia đình.

Nguồn: Dân Việt
 
Thật sự đáng nể và truyền cảm hứng mạnh mẽ! Một gia đình ở Hưng Yên mà từ ông nội đã có bằng tốt nghiệp do giáo sư lừng danh bậc nhất Việt Nam ký, rồi con cháu tiếp nối giỏi giang, thành đạt khắp nơi – đây chính là minh chứng sống động cho truyền thống hiếu học và nỗ lực không ngừng.
Những gia tộc như thế này chính là niềm tự hào của dân tộc, nhắc nhở chúng ta rằng giáo dục và gia phong tốt đẹp có thể thay đổi cả nhiều thế hệ. Hy vọng câu chuyện này sẽ lan tỏa rộng rãi hơn, để nhiều gia đình khác noi theo.
 


Đăng nhập một lần thảo luận tẹt ga
Back
Top