Wandering Earth
Thành viên nổi tiếng
Tháng 5/2026, nhiều khoản chi tiêu thiết yếu của người dân tiếp tục tăng giá, trong đó điện sinh hoạt tăng 2,38%, nước sinh hoạt tăng 1,41%, giá thuê nhà tăng 0,71% và giá xăng tăng 2,12%.
Theo số liệu vừa công bố, nhóm nhà ở, điện nước và vật liệu xây dựng là nhóm có mức tăng mạnh nhất trong tháng. Thời tiết nắng nóng khiến nhu cầu sử dụng điện, nước tăng cao, trong khi giá vật liệu xây dựng và chi phí thuê nhà tiếp tục đi lên.
Bên cạnh đó, một số dịch vụ du lịch, khách sạn, ăn uống ngoài gia đình cũng tăng giá do chi phí vận hành và nhân công cao hơn.
Ở chiều ngược lại, nhiều mặt hàng thực phẩm ghi nhận giảm giá. Giá gạo giảm 0,95%, thịt lợn giảm 0,82%, thủy sản tươi sống giảm 0,63% và trứng giảm 0,44%. Nhờ đó, chi phí cho bữa ăn gia đình phần nào được giảm bớt.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,64%, mức tăng cao nhất trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ. Tiếp theo là nhóm giao thông tăng 5,22% và nhóm hàng ăn, dịch vụ ăn uống tăng 4,77%.
Trên thị trường vàng, giá vàng trong nước giảm 4,11% trong tháng 5 so với tháng trước do ảnh hưởng từ xu hướng giảm của giá vàng thế giới. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm ngoái, giá vàng vẫn cao hơn 33,87%. Bình quân 5 tháng đầu năm, giá vàng tăng 65,97%.
Trong khi đó, giá USD trong nước ít biến động. Tháng 5, giá USD tự do bình quân quanh mức 26.375 đồng/USD, tăng nhẹ 0,02% so với tháng trước. Tính chung 5 tháng đầu năm, giá USD tăng 1,99%.
Theo số liệu vừa công bố, nhóm nhà ở, điện nước và vật liệu xây dựng là nhóm có mức tăng mạnh nhất trong tháng. Thời tiết nắng nóng khiến nhu cầu sử dụng điện, nước tăng cao, trong khi giá vật liệu xây dựng và chi phí thuê nhà tiếp tục đi lên.
Bên cạnh đó, một số dịch vụ du lịch, khách sạn, ăn uống ngoài gia đình cũng tăng giá do chi phí vận hành và nhân công cao hơn.
Ở chiều ngược lại, nhiều mặt hàng thực phẩm ghi nhận giảm giá. Giá gạo giảm 0,95%, thịt lợn giảm 0,82%, thủy sản tươi sống giảm 0,63% và trứng giảm 0,44%. Nhờ đó, chi phí cho bữa ăn gia đình phần nào được giảm bớt.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,64%, mức tăng cao nhất trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ. Tiếp theo là nhóm giao thông tăng 5,22% và nhóm hàng ăn, dịch vụ ăn uống tăng 4,77%.
Trên thị trường vàng, giá vàng trong nước giảm 4,11% trong tháng 5 so với tháng trước do ảnh hưởng từ xu hướng giảm của giá vàng thế giới. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm ngoái, giá vàng vẫn cao hơn 33,87%. Bình quân 5 tháng đầu năm, giá vàng tăng 65,97%.
Trong khi đó, giá USD trong nước ít biến động. Tháng 5, giá USD tự do bình quân quanh mức 26.375 đồng/USD, tăng nhẹ 0,02% so với tháng trước. Tính chung 5 tháng đầu năm, giá USD tăng 1,99%.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Năm tăng 0,29% so với tháng trước do giá điện, nước sinh hoạt tăng cùng với nhu cầu sử dụng cao trong thời tiết nắng nóng, giá vật liệu xây dựng, nhà ở thuê, giá xăng tăng. CPI tháng Năm tăng 3,61% so với tháng 12/2025 và tăng 5,60% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung năm tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,31% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,04%.
Trong mức tăng 0,29% của CPI tháng Năm so với tháng trước, có 10 nhóm hàng tăng giá, riêng chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm.
(1) Mười nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:
– Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,96% (tác động làm tăng CPI chung 0,22 điểm phần trăm), chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng sau: Giá thuê nhà tăng 0,71%, trong đó, giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,69%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,81%; giá điện sinh hoạt tăng 2,38%; nước sinh hoạt tăng 1,41%[1]. Ở chiều ngược lại, giá gas giảm 1,50% theo giá thế giới, tác động làm giảm CPI chung 0,02 điểm phần trăm.
– Nhóm giao thông tăng 0,83% (tác động làm CPI chung tăng 0,08 điểm phần trăm), chủ yếu do: Chỉ số giá xăng tăng 2,12%; chỉ số giá nhóm phụ tùng tăng 0,32%; chỉ số giá nhóm bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,59%; phí học bằng lái xe tăng 0,82%; phí cầu đường tăng 0,68%; dịch vụ thuê ô tô, xe máy tự lái tăng 0,46%; dịch vụ trông giữ xe tăng 0,07%. Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng và dịch vụ giao thông có giá giảm: Chỉ số giá dầu diezen giảm 16,42%; chỉ số giá dịch vụ giao thông công cộng giảm 1,47%.
– Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,48%, chủ yếu tăng ở những dịch vụ sau: Giá nhóm du lịch trọn gói tăng 1,19% (du lịch trong nước tăng 1,35%; du lịch ngoài nước tăng 0,27%) do chi phí tổ chức tour tăng, đặc biệt là chi phí di chuyển, lưu trú và dịch vụ du lịch; chụp, in tráng ảnh tăng 1,0%; khách sạn, nhà khách tăng 0,66%; dịch vụ liên quan đến vật nuôi tăng 0,60%; dịch vụ thể thao tăng 0,23%.
– Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,21% do chi phí nhập khẩu, sản xuất và phân phối tăng. Trong đó, chỉ số giá nước quả ép tăng 0,44% so với tháng trước; nước tăng lực đóng chai tăng 0,09%; thuốc lá tăng 0,47%; rượu bia các loại tăng 0,18%.
– Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,17% do chi phí nguyên vật liệu, nhân công và vận chuyển tăng. Trong đó, một số mặt hàng có mức giá tăng: Giá đèn điện thắp sáng tăng 0,51%; máy điều hòa nhiệt độ tăng 0,50%; quạt điện tăng 0,35%; sửa chữa thiết bị gia đình tăng 0,31%; bếp gas tăng 0,30%; giường, tủ, bàn ghế tăng 0,27%; hàng thủy tinh, sành, sứ tăng 0,23%; lò vi sóng, lò nướng, bếp từ tăng 0,22%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,17%; tủ lạnh tăng 0,18%; đồ dùng bằng kim loại tăng 0,16%; đồng hồ treo tường, để bàn và gương tăng 0,14%. Ở chiều ngược lại, giá bình nước nóng nhà tắm giảm 0,46%; máy xay sinh tố, ép hoa quả giảm 0,45%; máy đánh trứng giảm 0,24% do một số hãng áp dụng chương trình khuyến mại.
– Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,14%, chủ yếu do chỉ số giá dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 0,39%; vật dụng và dịch vụ hiếu hỉ tăng 0,19%. Ở chiều ngược lại, nhóm đồ trang sức giảm 2,58% theo giá vàng trong nước.
– Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,13% do chi phí nguyên vật liệu, vận chuyển và nhân công tăng. Trong đó, chỉ số giá nhóm dịch vụ giày dép tăng 0,62%; dịch vụ may mặc tăng 0,33%; vải các loại tăng 0,28%; giày dép tăng 0,30%; mũ nón tăng 0,17%; may mặc khác và quần áo may sẵn cùng tăng 0,06%.
– Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,10% do chỉ số giá nhóm thuốc các loại tăng 0,32%, chủ yếu do thời tiết nắng nóng, nhu cầu sử dụng thuốc tăng. Cụ thể, giá nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt tăng 0,64%; thuốc tác dụng trên đường hô hấp tăng 0,42%; hoóc môn và thuốc tác động vào hệ nội tiết tăng 0,39%; thuốc chống dị ứng tăng 0,38%; vitamin và khoáng chất tăng 0,34%; thuốc tim mạch tăng 0,33%; thuốc chống nhiễm, điều trị ký sinh trùng tăng 0,31%.
– Nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,04%, trong đó, giá thiết bị âm thanh tăng 0,81%; máy điện thoại di động thông thường tăng 0,41%; máy vi tính và phụ kiện tăng 0,37%; dịch vụ sửa chữa điện thoại tăng 0,26%; máy in, máy chiếu, máy quét tăng 0,19%; dịch vụ truyền hình và internet tăng 0,03%. Ở chiều ngược lại, giá phụ kiện máy điện thoại di động thông minh và máy tính bảng giảm 0,18%.
– Nhóm giáo dục tăng 0,03%, chủ yếu do giá bút viết các loại tăng 0,40%; văn phòng phẩm và đồ dùng học tập khác tăng 0,36%; sản phẩm từ giấy tăng 0,17%.
(2) Riêng nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,14% (tác động làm CPI chung giảm 0,05 điểm phần trăm), trong đó: Lương thực giảm 0,68%[2]; thực phẩm giảm 0,25%[3] (tác động giảm 0,06 điểm phần trăm); riêng ăn uống ngoài gia đình tăng 0,36%[4].
Tính chung năm tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,31% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất với 6,64% (tác động làm CPI chung tăng 1,51 điểm phần trăm); giao thông tăng 5,22% (làm CPI chung tăng 0,52 điểm phần trăm); hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,77% (tác động làm CPI chung tăng 1,71 điểm phần trăm); hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,96%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,38% (làm CPI chung tăng 0,06 điểm phần trăm); giáo dục tăng 3,28% (làm CPI chung tăng 0,20 điểm phần trăm); thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,53% (làm CPI chung tăng 0,13 điểm phần trăm); văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,22% (tác động làm CPI chung tăng 0,07 điểm phần trăm); may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,91% (tác động làm CPI chung tăng 0,07 điểm phần trăm); thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,99%; riêng thông tin và truyền thông giảm 0,06%.
Lạm phát cơ bản[5] tháng Năm tăng 0,34% so với tháng trước và tăng 4,67% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân năm tháng đầu năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 4,31% của CPI bình quân chung do giá xăng dầu, gas và thực phẩm biến động mạnh làm CPI chung tăng, trong khi các yếu tố này được loại trừ trong danh mục tính toán lạm phát cơ bản.
Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 27/5/2026, bình quân tháng Năm, giá vàng thế giới ở mức 4.619,18 USD/ounce, giảm 2,40% so với tháng Tư. Trong tháng Năm, giá vàng thế giới giảm do hoạt động chốt lời sau thời gian tăng mạnh trước đó và tâm lý thị trường ổn định hơn, làm giảm nhu cầu nắm giữ tài sản trú ẩn an toàn. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng Năm giảm 4,11% so với tháng trước, chủ yếu do giá vàng được các doanh nghiệp kinh doanh điều chỉnh giảm theo giá vàng thế giới. So với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá vàng tăng 33,87%; so với tháng 12/2025 tăng 6,27%; bình quân năm tháng đầu năm 2026, chỉ số giá vàng tăng 65,97%.
Giá đô la Mỹ trong nước biến động cùng chiều với giá thế giới. Tính đến ngày 27/5/2026, chỉ số USD trên thị trường quốc tế bình quân tháng Năm đạt mức 98,62 điểm, giảm nhẹ 0,01 điểm so với tháng Tư do thị trường kỳ vọng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) có thể giảm lãi suất trong thời gian tới. Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 26.375 VND/USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng Năm tăng 0,02% so với tháng trước do nhu cầu ngoại tệ trong nước tăng; tăng 0,78% so với cùng kỳ năm trước; giảm 0,28% so với tháng 12/2025; bình quân năm tháng đầu năm 2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,99%.
[1] Chỉ số giá điện, nước sinh hoạt tháng Năm phản ánh biến động trễ một tháng so với các mặt hàng khác do được tính dựa trên doanh thu và sản lượng tiêu dùng của tháng Tư.
[2] Giá gạo trong nước giảm chủ yếu do lúa vụ đông xuân đang được thu hoạch nên nguồn cung dồi dào, theo đó chỉ số giá nhóm gạo giảm 0,95% (Gạo tẻ thường giảm 1,07%; gạo tẻ ngon giảm 0,53%; gạo nếp giảm 0,89%; gạo lứt tẻ giảm 0,35%). Ở chiều ngược lại, giá các mặt hàng lương thực khác tăng như: Giá ngũ cốc ăn liền tăng 0,64%; bánh mì tăng 0,49%; ngũ cốc khác tăng 0,43%; mì sợi, mì, phở/cháo ăn liền tăng 0,36%; bột ngô tăng 0,31%; bún, bánh phở, bánh đa tăng 0,22%.
[3] Chỉ số giá thịt lợn giảm 0,82%; chỉ số giá thủy sản tươi sống giảm 0,63%; trứng các loại giảm 0,44%; thịt gia cầm giảm 0,42%; thịt bò giảm 0,14%; chỉ số giá quả tươi, chế biến giảm 1,41%. Ở chiều ngược lại, một số nhóm hàng tăng giá như: Chỉ số giá rau tươi, khô và chế biến tăng 1,36%; chỉ số giá sữa, bơ, phô mai tăng 0,37%; nước mắm, nước chấm tăng 0,34%; chè, cà phê, ca cao tăng 0,15%; bánh, mứt, kẹo tăng 0,12%; đồ gia vị tăng 0,05%.
[4] Do chi phí nguyên liệu đầu vào tăng cùng với chi phí nhân công, thuê mặt bằng và vận hành tăng. Trong đó, chỉ số giá ăn ngoài gia đình tăng 0,32%; uống ngoài gia đình tăng 0,48%; đồ ăn nhanh mang đi tăng 0,52%.
[5] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.

