Lê Nhã Linh
Thành viên nổi tiếng
Thông qua việc thành lập doanh nghiệp, ký các hợp đồng mang danh nghĩa mua bán nợ và tổ chức lực lượng thu hồi nợ theo nhóm, Hồ Thành Được, tức “Được Đất Bắc”, và Lê Tuấn Phong, tức “Phong Lê”, bị cơ quan điều tra xác định đã xây dựng một mô hình đòi nợ thuê núp bóng doanh nghiệp. Đằng sau những giấy tờ tưởng như hợp pháp là các hành vi bị cáo buộc như đe dọa, gây sức ép, bôi nhọ và cưỡng đoạt tài sản.
Theo thông tin về kết luận điều tra được công bố ngày 9/8, Hồ Thành Được, 35 tuổi, và Lê Tuấn Phong, 40 tuổi, cùng hàng chục người khác bị đề nghị truy tố với nhiều tội danh, trong đó có Cưỡng đoạt tài sản, Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Đưa hối lộ.
Đây là diễn biến mới trong vụ án được Công an TP.HCM mở rộng điều tra từ chuyên án triệt phá nhóm Được “Đất Bắc” trước đó.
Doanh nghiệp được dựng lên như một “vỏ bọc” pháp lý
Theo hồ sơ điều tra được các cơ quan chức năng công bố trước đó, Được đứng sau Công ty TNHH DV Bảo vệ - Vệ sĩ - Mua bán nợ 620. Người này để Nguyễn Hoàng Tiến đứng tên giám đốc, đại diện pháp luật, trong khi Trần Ngọc Khuê giữ vai trò phó giám đốc.
Được sau đó tổ chức một bộ phận chuyên thu hồi nợ. Theo Dân trí, nhân viên được tuyển dụng chủ yếu dưới dạng cộng tác viên, được trang bị đồng phục mang logo công ty, phía sau ghi “mua bán nợ 620”. Nhóm nhân viên này được phân công đi cùng Được để thực hiện các vụ thu hồi nợ.
Cách thức tương tự cũng được xác định ở Công ty TNHH Mua bán nợ Lê Phong Gia Lai do Lê Tuấn Phong đứng tên điều hành.
Điểm chung giữa các doanh nghiệp này là hoạt động thực tế bị cáo buộc không dừng ở việc mua một khoản nợ rồi tự chịu rủi ro thu hồi, mà sử dụng hợp đồng mua bán nợ để che đậy việc nhận tiền của chủ nợ và tổ chức lực lượng đi đòi nợ thuê.
Cơ quan điều tra cho rằng các hợp đồng này mang tính “giả cách”. Hai bên thỏa thuận tỷ lệ ăn chia trên số tiền thu hồi được, có trường hợp từ 20% đến 50%, đồng thời khách hàng phải trả trước các khoản được gọi là hỗ trợ công tác phí.
Với một hợp đồng được ký trên giấy tờ, các nhóm này có thể tự giới thiệu mình là “chủ nợ mới” khi tiếp xúc người vay. Khi bị lực lượng chức năng kiểm tra, họ đưa ra hợp đồng mua bán nợ và giấy đăng ký doanh nghiệp để chứng minh hoạt động của mình là quan hệ dân sự.
Công an TP.HCM từng xác định đây là thủ đoạn phổ biến của các nhóm trong đường dây: khi bị kiểm tra, họ xuất trình hợp đồng mua bán nợ nhằm né tránh trách nhiệm và che giấu bản chất của hoạt động cưỡng đoạt tài sản.
“Áo giáp” doanh nghiệp không làm hoạt động đòi nợ trở thành hợp pháp
Điều đáng chú ý là hoạt động này diễn ra trong bối cảnh pháp luật đã cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ.
Luật Đầu tư 2020 có hiệu lực từ ngày 1/1/2021 đã đưa “kinh doanh dịch vụ đòi nợ” vào danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh. Điều đó có nghĩa doanh nghiệp không thể lấy việc đăng ký ngành nghề mua bán nợ hay các hoạt động kinh doanh khác để biến việc nhận tiền đi thu hồi nợ thuê thành một dịch vụ hợp pháp.
Vì vậy, điểm mấu chốt trong vụ án không đơn thuần nằm ở tên gọi của hợp đồng mà là bản chất thực tế của giao dịch và cách thức các đối tượng thực hiện việc thu hồi tiền.
Nếu hợp đồng mua bán nợ chỉ được sử dụng như công cụ để che giấu việc nhận tiền và đi đòi nợ thuê, giấy phép doanh nghiệp hay con dấu công ty không thể trở thành “lá chắn” trước pháp luật.
Từ thu hồi nợ sang “khủng bố tinh thần”
Theo nội dung điều tra, lực lượng của Được không hoạt động theo kiểu một cá nhân đến gặp người vay để thương lượng.
Các nhóm thường đi đông người, mặc đồng phục, có người trực tiếp gây áp lực, người quay phim, chụp ảnh và người cảnh giới. Những hình ảnh này sau đó được sử dụng trên YouTube, TikTok hoặc Facebook để gây sức ép đối với người bị đòi nợ.
Công an TP.HCM từng xác định hoạt động của các nhóm này được tổ chức khá bài bản, với sự phân công rõ ràng giữa người chỉ đạo, người trực tiếp gây áp lực, người quay video và người cảnh giới.
Đáng chú ý hơn, sức ép không chỉ hướng vào người có nghĩa vụ trả tiền mà còn lan sang người thân, đồng nghiệp và nơi làm việc.
Trong một vụ việc được nêu trong hồ sơ, nhóm của Được bị cáo buộc nhiều lần đến nhà một phụ nữ để gây áp lực nhằm buộc người này trả 500 triệu đồng. Nhóm còn đưa thông tin khoản nợ đến nơi làm việc của con trai người phụ nữ, là một bác sĩ tại bệnh viện ở TP.HCM.
Việc người thân bị gọi điện, bị gửi thông tin khoản nợ đến nơi làm việc khiến áp lực không còn giới hạn trong quan hệ giữa chủ nợ và người vay.
Theo nội dung điều tra, người con sau khi bị quấy rối đã lấy 40 triệu đồng tiền tiết kiệm đưa cho mẹ để giải quyết khoản tiền mà nhóm Được yêu cầu.
Đây cũng là một trong những điểm cho thấy phương thức hoạt động của nhóm không đơn thuần nhằm thương lượng để thu hồi khoản nợ mà bị cáo buộc đã chuyển sang gây sức ép tinh thần để buộc nạn nhân phải giao tiền.
Phong “Lê” và những cuộc vây ráp tại nơi công cộng
Với Lê Tuấn Phong, phương thức hoạt động được cơ quan điều tra mô tả cũng có điểm tương đồng.
Trong một vụ việc liên quan khoản nợ 3,1 tỷ đồng, khi biết người bị đòi nợ đang có mặt tại một văn phòng công chứng ở TP.HCM, Phong bị cáo buộc đã huy động nhiều người đến vây quanh, quay phim và gây áp lực.
Sự việc sau đó được đưa về trụ sở công an phường. Tuy nhiên, theo hồ sơ điều tra, nhóm của Phong vẫn tiếp tục bám sát và thúc ép người đàn ông ký biên bản xác nhận nợ, đồng thời cam kết nếu không trả đúng hạn thì khoản tiền sẽ được chuyển cho Công ty Lê Phong Gia Lai xử lý.
Ở một vụ việc khác, nhóm của Phong bị cáo buộc huy động đông người, mặc đồng phục công ty, đến nhà một phụ nữ để gây áp lực liên quan khoản tiền hơn 1,7 tỷ đồng.
Những chi tiết này cho thấy một đặc điểm đáng chú ý của mô hình: đồng phục, công ty, hợp đồng và số lượng người tham gia được sử dụng đồng thời để tạo cảm giác về một tổ chức có quy mô và quyền lực, qua đó làm tăng áp lực đối với người bị đòi nợ.
Vụ Nhất Tín: mô hình được mở rộng sang nhóm khác
Vụ án không dừng ở Được “Đất Bắc” và Phong “Lê”.
Ngày 10/4/2026, Công an TP.HCM thông báo khởi tố, bắt tạm giam 9 người liên quan Công ty TNHH Mua bán nợ Nhất Tín để điều tra về hành vi cưỡng đoạt tài sản. Nhóm này gồm Hồ Minh Đạt, Nguyễn Thị Giang cùng Nguyễn Trung Đức và những người liên quan.
Theo cơ quan điều tra, Công ty Nhất Tín do Hồ Minh Đạt làm giám đốc đã sử dụng danh nghĩa hợp đồng mua bán nợ để tổ chức hoạt động đòi nợ thuê, với tỷ lệ ăn chia được xác định từ 30% đến 50%.
Một trong những vụ việc được điều tra liên quan khoản nợ khoảng 70 tỷ đồng. Nhóm này bị cáo buộc nhiều lần kéo đến nhà riêng và cơ sở kinh doanh của người bị đòi nợ, tụ tập đông người, lớn tiếng đe dọa, cản trở hoạt động kinh doanh; một số người còn bị cáo buộc hành hung, đập phá tài sản và uy hiếp người thân, nhân viên.
Tang vật cơ quan điều tra thu giữ gồm hợp đồng mua bán nợ, con dấu doanh nghiệp, đồng phục sử dụng khi đi đòi nợ và các phương tiện liên quan.
Từ một đường dây thành mạng lưới nhiều nhóm
Đáng chú ý, trong quá trình mở rộng chuyên án, Công an TP.HCM phát hiện thêm các nhóm khác có phương thức hoạt động tương tự.
Theo Bộ Công an, Công ty Lê Phong Gia Lai từng được xác định có hành vi “môi giới” cho Công ty TNHH DV Mua bán nợ - Bảo vệ - Vệ sĩ 620 ký kết các hợp đồng đòi nợ thuê. Nhóm Nguyễn Trung Đức vừa môi giới, vừa trực tiếp tham gia cùng Công ty Lê Phong Gia Lai đi đòi nợ.
Điều này cho thấy vụ án có dấu hiệu vượt khỏi mô hình một doanh nghiệp đơn lẻ. Các nhóm có thể môi giới khách hàng, chuyển giao hợp đồng, chia tiền và phối hợp lực lượng, tạo thành những mắt xích trong một mạng lưới thu hồi nợ trái pháp luật.
Công an TP.HCM cũng cho biết một số đối tượng sau khi bị xử lý tại TP.HCM còn di chuyển sang địa phương khác để tiếp tục hoạt động tương tự, cho thấy tính chất liên tỉnh của các nhóm này.
Vì sao “vỏ bọc doanh nghiệp” nguy hiểm?
Điểm đáng chú ý nhất của vụ án là cách các đối tượng được cho là đã kết hợp công cụ pháp lý với phương thức hoạt động kiểu giang hồ.
Một bên là hợp đồng, con dấu, chức danh giám đốc, tên công ty, đồng phục và quy trình làm việc. Bên kia là việc kéo đông người đến nhà, quay phim, gọi điện cho người thân, đưa thông tin đến nơi làm việc, chửi bới, đe dọa hoặc gây sức ép.
Chính sự kết hợp này có thể khiến nạn nhân khó phân biệt đâu là một tranh chấp dân sự thông thường và đâu là hành vi đã vượt qua giới hạn pháp luật hình sự.
Từ vụ Được “Đất Bắc”, Phong “Lê” đến nhóm Nhất Tín, cơ quan điều tra đang từng bước làm rõ một mô hình chung: lấy danh nghĩa mua bán nợ để tiếp cận các khoản nợ khó đòi, tổ chức lực lượng gây sức ép và sử dụng giấy tờ doanh nghiệp như một lớp vỏ che chắn.
Nhưng khi phương thức thu hồi tiền chuyển thành đe dọa, uy hiếp, bôi nhọ hoặc buộc người khác phải giao tài sản, bản chất của vụ việc không còn là một giao dịch thương mại đơn thuần.
Theo thông tin về kết luận điều tra được công bố ngày 9/8, Hồ Thành Được, 35 tuổi, và Lê Tuấn Phong, 40 tuổi, cùng hàng chục người khác bị đề nghị truy tố với nhiều tội danh, trong đó có Cưỡng đoạt tài sản, Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Đưa hối lộ.
Đây là diễn biến mới trong vụ án được Công an TP.HCM mở rộng điều tra từ chuyên án triệt phá nhóm Được “Đất Bắc” trước đó.
Các bị can liên quan hoạt động đòi nợ thuê trá hình, cưỡng đoạt tài sản với số tiền hàng chục tỷ đồng. (Ảnh: Công an TP.HCM)
Doanh nghiệp được dựng lên như một “vỏ bọc” pháp lý
Theo hồ sơ điều tra được các cơ quan chức năng công bố trước đó, Được đứng sau Công ty TNHH DV Bảo vệ - Vệ sĩ - Mua bán nợ 620. Người này để Nguyễn Hoàng Tiến đứng tên giám đốc, đại diện pháp luật, trong khi Trần Ngọc Khuê giữ vai trò phó giám đốc.
Được sau đó tổ chức một bộ phận chuyên thu hồi nợ. Theo Dân trí, nhân viên được tuyển dụng chủ yếu dưới dạng cộng tác viên, được trang bị đồng phục mang logo công ty, phía sau ghi “mua bán nợ 620”. Nhóm nhân viên này được phân công đi cùng Được để thực hiện các vụ thu hồi nợ.
Cách thức tương tự cũng được xác định ở Công ty TNHH Mua bán nợ Lê Phong Gia Lai do Lê Tuấn Phong đứng tên điều hành.
Điểm chung giữa các doanh nghiệp này là hoạt động thực tế bị cáo buộc không dừng ở việc mua một khoản nợ rồi tự chịu rủi ro thu hồi, mà sử dụng hợp đồng mua bán nợ để che đậy việc nhận tiền của chủ nợ và tổ chức lực lượng đi đòi nợ thuê.
Cơ quan điều tra cho rằng các hợp đồng này mang tính “giả cách”. Hai bên thỏa thuận tỷ lệ ăn chia trên số tiền thu hồi được, có trường hợp từ 20% đến 50%, đồng thời khách hàng phải trả trước các khoản được gọi là hỗ trợ công tác phí.
Với một hợp đồng được ký trên giấy tờ, các nhóm này có thể tự giới thiệu mình là “chủ nợ mới” khi tiếp xúc người vay. Khi bị lực lượng chức năng kiểm tra, họ đưa ra hợp đồng mua bán nợ và giấy đăng ký doanh nghiệp để chứng minh hoạt động của mình là quan hệ dân sự.
Công an TP.HCM từng xác định đây là thủ đoạn phổ biến của các nhóm trong đường dây: khi bị kiểm tra, họ xuất trình hợp đồng mua bán nợ nhằm né tránh trách nhiệm và che giấu bản chất của hoạt động cưỡng đoạt tài sản.
“Áo giáp” doanh nghiệp không làm hoạt động đòi nợ trở thành hợp pháp
Điều đáng chú ý là hoạt động này diễn ra trong bối cảnh pháp luật đã cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ.
Luật Đầu tư 2020 có hiệu lực từ ngày 1/1/2021 đã đưa “kinh doanh dịch vụ đòi nợ” vào danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh. Điều đó có nghĩa doanh nghiệp không thể lấy việc đăng ký ngành nghề mua bán nợ hay các hoạt động kinh doanh khác để biến việc nhận tiền đi thu hồi nợ thuê thành một dịch vụ hợp pháp.
Vì vậy, điểm mấu chốt trong vụ án không đơn thuần nằm ở tên gọi của hợp đồng mà là bản chất thực tế của giao dịch và cách thức các đối tượng thực hiện việc thu hồi tiền.
Nếu hợp đồng mua bán nợ chỉ được sử dụng như công cụ để che giấu việc nhận tiền và đi đòi nợ thuê, giấy phép doanh nghiệp hay con dấu công ty không thể trở thành “lá chắn” trước pháp luật.
Từ thu hồi nợ sang “khủng bố tinh thần”
Theo nội dung điều tra, lực lượng của Được không hoạt động theo kiểu một cá nhân đến gặp người vay để thương lượng.
Các nhóm thường đi đông người, mặc đồng phục, có người trực tiếp gây áp lực, người quay phim, chụp ảnh và người cảnh giới. Những hình ảnh này sau đó được sử dụng trên YouTube, TikTok hoặc Facebook để gây sức ép đối với người bị đòi nợ.
Công an TP.HCM từng xác định hoạt động của các nhóm này được tổ chức khá bài bản, với sự phân công rõ ràng giữa người chỉ đạo, người trực tiếp gây áp lực, người quay video và người cảnh giới.
Đáng chú ý hơn, sức ép không chỉ hướng vào người có nghĩa vụ trả tiền mà còn lan sang người thân, đồng nghiệp và nơi làm việc.
Trong một vụ việc được nêu trong hồ sơ, nhóm của Được bị cáo buộc nhiều lần đến nhà một phụ nữ để gây áp lực nhằm buộc người này trả 500 triệu đồng. Nhóm còn đưa thông tin khoản nợ đến nơi làm việc của con trai người phụ nữ, là một bác sĩ tại bệnh viện ở TP.HCM.
Việc người thân bị gọi điện, bị gửi thông tin khoản nợ đến nơi làm việc khiến áp lực không còn giới hạn trong quan hệ giữa chủ nợ và người vay.
Theo nội dung điều tra, người con sau khi bị quấy rối đã lấy 40 triệu đồng tiền tiết kiệm đưa cho mẹ để giải quyết khoản tiền mà nhóm Được yêu cầu.
Đây cũng là một trong những điểm cho thấy phương thức hoạt động của nhóm không đơn thuần nhằm thương lượng để thu hồi khoản nợ mà bị cáo buộc đã chuyển sang gây sức ép tinh thần để buộc nạn nhân phải giao tiền.
Phong “Lê” và những cuộc vây ráp tại nơi công cộng
Với Lê Tuấn Phong, phương thức hoạt động được cơ quan điều tra mô tả cũng có điểm tương đồng.
Trong một vụ việc liên quan khoản nợ 3,1 tỷ đồng, khi biết người bị đòi nợ đang có mặt tại một văn phòng công chứng ở TP.HCM, Phong bị cáo buộc đã huy động nhiều người đến vây quanh, quay phim và gây áp lực.
Sự việc sau đó được đưa về trụ sở công an phường. Tuy nhiên, theo hồ sơ điều tra, nhóm của Phong vẫn tiếp tục bám sát và thúc ép người đàn ông ký biên bản xác nhận nợ, đồng thời cam kết nếu không trả đúng hạn thì khoản tiền sẽ được chuyển cho Công ty Lê Phong Gia Lai xử lý.
Ở một vụ việc khác, nhóm của Phong bị cáo buộc huy động đông người, mặc đồng phục công ty, đến nhà một phụ nữ để gây áp lực liên quan khoản tiền hơn 1,7 tỷ đồng.
Những chi tiết này cho thấy một đặc điểm đáng chú ý của mô hình: đồng phục, công ty, hợp đồng và số lượng người tham gia được sử dụng đồng thời để tạo cảm giác về một tổ chức có quy mô và quyền lực, qua đó làm tăng áp lực đối với người bị đòi nợ.
Vụ Nhất Tín: mô hình được mở rộng sang nhóm khác
Vụ án không dừng ở Được “Đất Bắc” và Phong “Lê”.
Ngày 10/4/2026, Công an TP.HCM thông báo khởi tố, bắt tạm giam 9 người liên quan Công ty TNHH Mua bán nợ Nhất Tín để điều tra về hành vi cưỡng đoạt tài sản. Nhóm này gồm Hồ Minh Đạt, Nguyễn Thị Giang cùng Nguyễn Trung Đức và những người liên quan.
Theo cơ quan điều tra, Công ty Nhất Tín do Hồ Minh Đạt làm giám đốc đã sử dụng danh nghĩa hợp đồng mua bán nợ để tổ chức hoạt động đòi nợ thuê, với tỷ lệ ăn chia được xác định từ 30% đến 50%.
Một trong những vụ việc được điều tra liên quan khoản nợ khoảng 70 tỷ đồng. Nhóm này bị cáo buộc nhiều lần kéo đến nhà riêng và cơ sở kinh doanh của người bị đòi nợ, tụ tập đông người, lớn tiếng đe dọa, cản trở hoạt động kinh doanh; một số người còn bị cáo buộc hành hung, đập phá tài sản và uy hiếp người thân, nhân viên.
Tang vật cơ quan điều tra thu giữ gồm hợp đồng mua bán nợ, con dấu doanh nghiệp, đồng phục sử dụng khi đi đòi nợ và các phương tiện liên quan.
Từ một đường dây thành mạng lưới nhiều nhóm
Đáng chú ý, trong quá trình mở rộng chuyên án, Công an TP.HCM phát hiện thêm các nhóm khác có phương thức hoạt động tương tự.
Theo Bộ Công an, Công ty Lê Phong Gia Lai từng được xác định có hành vi “môi giới” cho Công ty TNHH DV Mua bán nợ - Bảo vệ - Vệ sĩ 620 ký kết các hợp đồng đòi nợ thuê. Nhóm Nguyễn Trung Đức vừa môi giới, vừa trực tiếp tham gia cùng Công ty Lê Phong Gia Lai đi đòi nợ.
Điều này cho thấy vụ án có dấu hiệu vượt khỏi mô hình một doanh nghiệp đơn lẻ. Các nhóm có thể môi giới khách hàng, chuyển giao hợp đồng, chia tiền và phối hợp lực lượng, tạo thành những mắt xích trong một mạng lưới thu hồi nợ trái pháp luật.
Công an TP.HCM cũng cho biết một số đối tượng sau khi bị xử lý tại TP.HCM còn di chuyển sang địa phương khác để tiếp tục hoạt động tương tự, cho thấy tính chất liên tỉnh của các nhóm này.
Vì sao “vỏ bọc doanh nghiệp” nguy hiểm?
Điểm đáng chú ý nhất của vụ án là cách các đối tượng được cho là đã kết hợp công cụ pháp lý với phương thức hoạt động kiểu giang hồ.
Một bên là hợp đồng, con dấu, chức danh giám đốc, tên công ty, đồng phục và quy trình làm việc. Bên kia là việc kéo đông người đến nhà, quay phim, gọi điện cho người thân, đưa thông tin đến nơi làm việc, chửi bới, đe dọa hoặc gây sức ép.
Chính sự kết hợp này có thể khiến nạn nhân khó phân biệt đâu là một tranh chấp dân sự thông thường và đâu là hành vi đã vượt qua giới hạn pháp luật hình sự.
Từ vụ Được “Đất Bắc”, Phong “Lê” đến nhóm Nhất Tín, cơ quan điều tra đang từng bước làm rõ một mô hình chung: lấy danh nghĩa mua bán nợ để tiếp cận các khoản nợ khó đòi, tổ chức lực lượng gây sức ép và sử dụng giấy tờ doanh nghiệp như một lớp vỏ che chắn.
Nhưng khi phương thức thu hồi tiền chuyển thành đe dọa, uy hiếp, bôi nhọ hoặc buộc người khác phải giao tài sản, bản chất của vụ việc không còn là một giao dịch thương mại đơn thuần.