Đây là câu hỏi rất hay và nhiều người cũng thắc mắc tương tự. Để hiểu được, cần tách rõ hai khái niệm, tỷ lệ đóng hằng tháng và tỷ lệ hưởng khi về hưu, vì chúng được tính trên hai cơ sở hoàn toàn khác nhau.
Tỷ lệ đóng khoảng 30% là đóng hằng tháng, trong nhiều năm
Khi đi làm, mỗi tháng người lao động và người sử dụng lao động cùng đóng tổng cộng khoảng 32% tiền lương vào quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp, trong đó riêng phần vào quỹ hưu trí, tử tuất chiếm phần lớn. Đáng chú ý, người lao động chỉ trực tiếp trích khoảng 8% lương của chính mình, phần còn lại, khoảng 17 đến 18%, do doanh nghiệp đóng thêm. Khoản tiền này được đóng đều đặn mỗi tháng, liên tục trong suốt 20 đến 35 năm đi làm, tức là tổng số tiền tích lũy qua nhiều thập kỷ lớn hơn rất nhiều so với một tháng lương.
Tỷ lệ hưởng 75% là tính trên một công thức khác, không phải so sánh trực tiếp với tỷ lệ đóng
Theo quy định hiện hành, lao động nữ đóng đủ 15 năm bảo hiểm xã hội được hưởng 45% mức bình quân tiền lương đóng, sau đó mỗi năm đóng thêm được cộng thêm 2%, tối đa đạt 75% khi đóng đủ 30 năm. Lao động nam đóng đủ 20 năm được hưởng 45%, cũng cộng thêm 2% mỗi năm, đạt tối đa 75% khi đóng đủ 35 năm. Tỷ lệ 75% này được tính trên mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội trong suốt quá trình làm việc, chứ không phải tính trên số phần trăm đã đóng mỗi tháng.
Vì sao con số 30% đóng lại tạo ra được 75% hưởng?
Có mấy lý do cốt lõi giải thích cho điều tưởng chừng vô lý này.
Thứ nhất, đây là mô hình quỹ hưu trí chia sẻ rủi ro, hay còn gọi là cơ chế thu hộ chi trả theo dòng tiền, chứ không phải tài khoản tiết kiệm cá nhân. Tiền đóng của người đang đi làm hiện tại một phần dùng để chi trả lương hưu cho người đã nghỉ hưu trước đó, mang tính chất đoàn kết, chia sẻ giữa các thế hệ người lao động, chứ không phải mỗi người tự tích lũy đúng số tiền mình đã đóng rồi nhận lại y nguyên.
Thứ hai, phần lớn chi phí đóng bảo hiểm xã hội do doanh nghiệp gánh chứ không phải người lao động, nên thực chất người lao động chỉ bỏ ra một phần nhỏ trong tổng số tiền tích lũy vào quỹ, nhưng khi tính quyền lợi hưởng lương hưu, luật vẫn tính trên tổng mức lương làm căn cứ đóng, bao gồm cả phần doanh nghiệp đóng góp.
Thứ ba, thời gian đóng kéo dài hàng chục năm khiến tổng số tiền tích lũy thực tế rất lớn. Nếu nhân tỷ lệ 30% mỗi tháng với 30 đến 35 năm liên tục, tổng số tiền đã nộp vào quỹ tương đương hàng trăm tháng lương, đủ để quỹ chi trả lương hưu hằng tháng trong suốt thời gian nghỉ hưu, thường kéo dài 15 đến 25 năm hoặc hơn.
Thứ tư, mức lương dùng để tính bình quân khi về hưu đã được điều chỉnh theo trượt giá hằng năm, nhằm phản ánh đúng giá trị thực tế của đồng tiền tại từng thời điểm đóng, giúp người về hưu không bị thiệt do lạm phát qua nhiều năm.
Tóm lại, con số 30% và 75% không nằm trên cùng một trục so sánh trực tiếp. Một bên là tỷ lệ trích từ lương mỗi tháng trong hàng chục năm, một bên là tỷ lệ hưởng tính trên mức bình quân lương cả quá trình đóng, được thiết kế theo nguyên tắc đóng dài hưởng cao, đóng góp của cả người lao động lẫn doanh nghiệp cùng cộng dồn qua thời gian mới tạo ra được mức hưởng lên tới 75% khi đáp ứng đủ điều kiện về số năm đóng.
Tỷ lệ đóng khoảng 30% là đóng hằng tháng, trong nhiều năm
Khi đi làm, mỗi tháng người lao động và người sử dụng lao động cùng đóng tổng cộng khoảng 32% tiền lương vào quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp, trong đó riêng phần vào quỹ hưu trí, tử tuất chiếm phần lớn. Đáng chú ý, người lao động chỉ trực tiếp trích khoảng 8% lương của chính mình, phần còn lại, khoảng 17 đến 18%, do doanh nghiệp đóng thêm. Khoản tiền này được đóng đều đặn mỗi tháng, liên tục trong suốt 20 đến 35 năm đi làm, tức là tổng số tiền tích lũy qua nhiều thập kỷ lớn hơn rất nhiều so với một tháng lương.
Tỷ lệ hưởng 75% là tính trên một công thức khác, không phải so sánh trực tiếp với tỷ lệ đóng
Theo quy định hiện hành, lao động nữ đóng đủ 15 năm bảo hiểm xã hội được hưởng 45% mức bình quân tiền lương đóng, sau đó mỗi năm đóng thêm được cộng thêm 2%, tối đa đạt 75% khi đóng đủ 30 năm. Lao động nam đóng đủ 20 năm được hưởng 45%, cũng cộng thêm 2% mỗi năm, đạt tối đa 75% khi đóng đủ 35 năm. Tỷ lệ 75% này được tính trên mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội trong suốt quá trình làm việc, chứ không phải tính trên số phần trăm đã đóng mỗi tháng.
Vì sao con số 30% đóng lại tạo ra được 75% hưởng?
Có mấy lý do cốt lõi giải thích cho điều tưởng chừng vô lý này.
Thứ nhất, đây là mô hình quỹ hưu trí chia sẻ rủi ro, hay còn gọi là cơ chế thu hộ chi trả theo dòng tiền, chứ không phải tài khoản tiết kiệm cá nhân. Tiền đóng của người đang đi làm hiện tại một phần dùng để chi trả lương hưu cho người đã nghỉ hưu trước đó, mang tính chất đoàn kết, chia sẻ giữa các thế hệ người lao động, chứ không phải mỗi người tự tích lũy đúng số tiền mình đã đóng rồi nhận lại y nguyên.
Thứ hai, phần lớn chi phí đóng bảo hiểm xã hội do doanh nghiệp gánh chứ không phải người lao động, nên thực chất người lao động chỉ bỏ ra một phần nhỏ trong tổng số tiền tích lũy vào quỹ, nhưng khi tính quyền lợi hưởng lương hưu, luật vẫn tính trên tổng mức lương làm căn cứ đóng, bao gồm cả phần doanh nghiệp đóng góp.
Thứ ba, thời gian đóng kéo dài hàng chục năm khiến tổng số tiền tích lũy thực tế rất lớn. Nếu nhân tỷ lệ 30% mỗi tháng với 30 đến 35 năm liên tục, tổng số tiền đã nộp vào quỹ tương đương hàng trăm tháng lương, đủ để quỹ chi trả lương hưu hằng tháng trong suốt thời gian nghỉ hưu, thường kéo dài 15 đến 25 năm hoặc hơn.
Thứ tư, mức lương dùng để tính bình quân khi về hưu đã được điều chỉnh theo trượt giá hằng năm, nhằm phản ánh đúng giá trị thực tế của đồng tiền tại từng thời điểm đóng, giúp người về hưu không bị thiệt do lạm phát qua nhiều năm.
Tóm lại, con số 30% và 75% không nằm trên cùng một trục so sánh trực tiếp. Một bên là tỷ lệ trích từ lương mỗi tháng trong hàng chục năm, một bên là tỷ lệ hưởng tính trên mức bình quân lương cả quá trình đóng, được thiết kế theo nguyên tắc đóng dài hưởng cao, đóng góp của cả người lao động lẫn doanh nghiệp cùng cộng dồn qua thời gian mới tạo ra được mức hưởng lên tới 75% khi đáp ứng đủ điều kiện về số năm đóng.
